157 Học thuyết kinh tế của David Ricardo mới nhất

(Cập nhật lần cuối ngày: 19/09/2022 bởi Lytuong.net)

1. Tiểu sử David Ricardo

David Ricardo (1772-1823)

David Ricardo (1772-1823) sinh ra trong một gia đình giàu có ở Anh. Cha anh là một người Hà Lan nhập cư vào Anh, một nhà kinh doanh chứng khoán châu Âu. Năm 12 tuổi, anh vào trường trung học thương mại và sau đó làm việc trong lĩnh vực giao dịch chứng khoán. Nhờ tài năng trong công việc này, ông trở nên giàu có nhanh chóng, phải nói rằng ông là người giàu nhất nước Anh thời bấy giờ.

Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực như toán học và địa chất. Tuy nhiên, sở trường của ông là kinh tế chính trị. Ông đã xuất bản nhiều tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là “Các nguyên tắc của chính sách kinh tế và thuế” hay “Các nguyên tắc của kinh tế chính trị” (1817).
Nếu Adam Smith sống trong thời đại xây dựng, thủ công phát triển rực rỡ thì David Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Chính điều kiện khách quan cho nghiên cứu của ông đã được ông giải thích đầy đủ và sâu sắc hơn Adam Smith.

Theo K. Marx, Adam Smith là nhà kinh tế của thời đại công trường. David Ricardo là nhà kinh tế học của thời đại công nghiệp.

2. Một số học thuyết kinh tế của D. Ricardo

2.1. lý thuyết về giá trị

Về học thuyết giá trị, D. Ricardo dựa trên cơ sở học thuyết của Adam Smith, người kế tục và phát triển ông. Ông phân biệt rõ ràng hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, đồng thời chỉ ra rằng giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết để hình thành giá trị trao đổi, chứ không phải là thước đo giá trị trao đổi. Trừ một số hàng hiếm, giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi còn đối với đại đa số các hàng hóa khác, giá trị của nó do lao động quyết định.

D. Ricardo xem xét lại lý thuyết giá trị của Adam Smith để loại bỏ những điểm thừa và mâu thuẫn trong lý thuyết kinh tế của Adamsmith. Ông tin rằng trong hai định nghĩa của Adam Smith về giá trị, định nghĩa (1) là đúng và định nghĩa (2) là sai và nên bị bác bỏ.

Còn cơ cấu giá trị hàng hoá phải bao gồm ba bộ phận là C + V + m, chứ không thể loại trừ C ra khỏi giá trị sản phẩm như Adam Smith. Tuy nhiên, anh ấy vẫn chưa phân tích rõ C shift được thực hiện như thế nào trong sản phẩm mới?

D. Ricardo cũng đề cập đến công việc phức tạp, công việc đơn giản nhưng ông không giải thích được việc quy giản công việc phức tạp thành công việc đơn giản. Ông giải thích rằng lao động xã hội cần thiết quyết định giá trị của hàng hóa, nhưng lập luận rằng lao động xã hội cần thiết được quyết định bởi những điều kiện sản xuất tồi tệ nhất.

Về mối quan hệ giữa giá trị và giá cả, D. Ricardo cho rằng giá trị là tuyệt đối, giá trị trao đổi hay giá cả là tương đối và “Cái điều tiết giá cả là sự hao phí lao động trong sản xuất”.

Hạn chế của David Ricardo trong học thuyết giá trị của ông mãi sau này mới được Marx khắc phục và hoàn thiện.

2.2. Lý thuyết về tiền lương

Ông coi tiền lương là giá cả của sức lao động. Ông phân biệt giá tự nhiên với giá thị trường của sức lao động. Giá cả tự nhiên của lao động là giá trị của tư liệu sinh hoạt nuôi sống người lao động và gia đình anh ta. Giá này tăng lên khi chi phí sinh hoạt tăng lên và giảm xuống khi giá của những thứ đó giảm xuống. Giá cả tự nhiên của sức lao động còn phụ thuộc vào phong tục tập quán của người dân.

Giá cả thị trường của sức lao động chịu tác động của quan hệ cung cầu về sức lao động, “lao động đắt khi khan hiếm và rẻ khi dồi dào”…

Ông nói rằng tiền lương phải luôn ở mức thấp nhất, ít nhất là khi bạn còn sống, đó là quy luật tự nhiên chung của mọi xã hội. Ông giải thích, nếu lương cao thì người lao động có xu hướng sinh nhiều hơn, sống tốt thì tỷ lệ tử vong cũng giảm xuống mức tối thiểu, do đó số lượng người lao động cần việc làm sẽ tăng lên, trong khi nhu cầu về lao động sẽ tăng lên. . tương đối không thay đổi và điều này dự kiến ​​sẽ đưa tiền lương trở lại mức tối thiểu.

2.3. Lý thuyết về lợi nhuận

Ông coi lợi nhuận là khoản khấu trừ từ sản phẩm lao động của người công nhân, tức là phần thặng dư vượt quá mức lương của người công nhân. Ông đã nhìn thấy mối quan hệ mâu thuẫn giữa tiền lương và lợi nhuận. Ông lập luận rằng sự thay đổi của lợi nhuận phụ thuộc vào sự thay đổi của tiền lương chứ không phải ngược lại. Ông chỉ ra hai xu hướng vận động trái ngược nhau của tiền lương, tiền lương giảm thì lợi nhuận tăng và ngược lại tiền lương tăng thì lợi nhuận giảm. Như vậy, D. Ricardo đã nhận thấy sự đối lập giữa tiền lương và lợi nhuận, tức là giữa lợi ích kinh tế của công nhân và nhà tư bản.

Ông đặc biệt quan tâm đến xu hướng tăng lương vì nó làm giảm mức lợi nhuận của các nhà tư bản và do đó hạn chế sản xuất.

2.4. Lý thuyết về tiền:

Đặc điểm nổi bật trong lý thuyết tiền tệ của D. Ricardo là tính hai mặt. Một mặt, ông cho rằng giá trị của tiền tệ được quyết định bởi giá trị của vật liệu (vàng, bạc) tạo ra tiền. Nó tương đương với lượng lao động bị lãng phí trong việc khai thác vàng và bạc. Theo ông, giá cả hàng hóa phụ thuộc vào giá trị của đồng tiền, nếu chất liệu làm ra tiền đắt thì giá hàng hóa sẽ giảm.

Nhưng mặt khác, nó đã thay thế lý thuyết “số lượng tiền”. Theo lý thuyết này, giá trị của tiền phụ thuộc vào khối lượng của nó. Số lượng tiền càng lớn thì giá trị của xu càng thấp và ngược lại. Bản thân tiền không có giá trị nội tại. Trên thực tế, có hai quy luật lưu thông tiền áp dụng cho các loại tiền tệ khác nhau. Một cái dành cho việc lưu thông tiền vàng, cái còn lại dành cho việc lưu thông tiền giấy.

2.5. Lý thuyết về giá thuê mặt bằng

Ông bác bỏ lập luận cho rằng địa tô là sản phẩm của các lực lượng tự nhiên hoặc năng suất cụ thể của lao động nông nghiệp. Ông hoàn toàn dựa vào quy luật giá trị để giải thích địa tô, nhấn mạnh rằng địa tô hình thành không phải trái quy luật giá trị mà phù hợp với quy luật giá trị. Ông lập luận rằng vì số lượng đất đai không phải là vô hạn nên chất lượng của nó không giống nhau. Khi dân số tăng lên, xã hội phải canh tác trên đất nghèo. Vì canh tác trên đất xấu nên giá trị nông sản được quyết định bởi sự hao phí sức lao động trên mảnh đất xấu nhất. Vì vậy, bình quân đất tốt sẽ cho năng suất cao hơn so với chi phí đầu tư so với ruộng xấu. Khoản chênh lệch trả cho chủ nhà được gọi là tiền thuê nhà.

Giống như Adam Smith, David Ricardo phân biệt giữa tiền thuê nhà và tiền thuê nhà. Tiền thuê đất là khoản thanh toán cho các khả năng vật chất thuần túy. Ngoài địa tô, địa tô còn bao gồm cả tiền lời trên vốn đầu tư vào đất đai.

Hạn chế quan trọng nhất trong lý thuyết về địa tô của David Ricardo là ông đã không đề cập đến địa tô phân biệt II và phủ nhận địa tô tuyệt đối.

2.6. Lý thuyết về thương mại quốc tế

Theo lý thuyết này, D. Ricardo lập luận rằng một quốc gia sẽ có lợi hơn khi mua những gì đắt hơn được sản xuất ở nước ngoài, đây là một nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế. Ông đưa ra ví dụ: có 2 quốc gia A và B cùng có 100 giờ làm việc. Trong trường hợp đầu tiên, quốc gia A sẽ sản xuất 100 tấn gạo hoặc 200 tấn than, quốc gia B sẽ sản xuất 80 tấn gạo hoặc hơn 400 tấn than. Nếu không có sự phân công, trao đổi giữa A và B thì tổng năng lực sản xuất là 180 tấn gạo và 600 tấn than với 400 giờ lao động và nếu có sự phân công nước A chuyên sản xuất lúa gạo với 200 giờ . lao động, sản xuất ra 200 tấn gạo và cũng với 200 giờ lao động, B sản xuất ra 800 tấn than. Vì vậy, sức sản xuất chung rõ ràng là có lợi. Ở A, 1 tấn gạo cho 2 tấn than và ở B, 1 tấn gạo cho 5 tấn than. Nếu A và B trao đổi thì cả hai bên đều có lợi.

D. Ricardo nói thêm rằng, đối với một quốc gia, nguồn thu và nợ phải trả được tự động cân bằng theo một cơ chế tự nhiên. Từ đó, theo ông, cần dỡ bỏ mọi hàng rào thuế quan và thực hiện chính sách thương mại tự do có lợi cho tất cả các nước.

Tóm lại, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đến giai đoạn D. Ricardo đã đạt đến trình độ cao nhất và tiệm cận với chân lý khoa học. Điều này là do hai điều kiện:

+ Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tăng lên nên lợi ích của giai cấp tư bản vẫn gắn liền với lợi ích xã hội.

+ Sự cạnh tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và vô sản chưa trở thành mối đe dọa trực tiếp đối với tư bản, nhưng nó cho phép các vấn đề kinh tế được xem xét một cách công bằng và khách quan hơn.